Giao diện cũ||
VNU LogoHCMUSSH Logo

Ngành Tâm lý học: Không đơn thuần chỉ là "bác sĩ cảm xúc"

Sức khỏe và có cuộc sống tốtGiáo dục có chất lượngCông việc tốt và tăng trưởng kinh tếCông nghiệp, sáng tạo và phát triển hạ tầng+1
27/03/2023
CHIA SẺ:
Ngành Tâm lý học: Không đơn thuần chỉ là "bác sĩ cảm xúc"

Hiện nay, ngành tâm lý học ngày càng có tính đa dạng, nhiều chuyên ngành và phạm vi ứng dụng rộng mở. Vì vậy, sinh viên không nhất thiết phải làm việc trực tiếp trong lĩnh vực tâm lý học, mà có thể phát triển sự nghiệp của mình trong nhiều lĩnh vực khác nhau dựa trên kiến thức và kỹ năng đã được giảng dạy. 

Nhằm giúp phụ huynh, học sinh có cái nhìn chính xác, sâu sắc hơn về ngành Tâm lý học tại Trường ĐH KHXH&NV nói riêng và Việt Nam nói chung, Website Trường đã có buổi phỏng vấn với TS. Lê Thị Mai Liên - Trưởng nhóm nghiên cứu Tâm lý ứng dụng, Phó trưởng khoa Tâm lý học, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM. Cô tốt nghiệp Thạc sĩ Tâm lý học tại Pháp và Tiến sĩ Tâm lý học tại Bỉ.

Không đơn thuần chỉ là “bác sĩ cảm xúc”

PV: Không ít phụ huynh học sinh hiện nay vẫn còn mơ hồ về ngành Tâm lý học (TLH) từ đó có không ít cách hiểu sai về ngành. Xin cô giới thiệu đặc điểm ngành Tâm lý học và các lĩnh vực chủ yếu của TLH hiện nay là gì?

TS. Lê Thị Mai Liên: Tâm lý học là một ngành khoa học nghiên cứu về hành vi và các quá trình tâm trí liên quan đến cảm xúc, suy nghĩ, nhận thức, học tập, phát triển và xã hội hóa con người. Các nhà tâm lý học nghiên cứu những quy luật và cơ chế đằng sau những hành vi và quá trình tâm trí này.

Trên thế giới, Tâm lý học có trên 20 nhánh khác nhau, có thể phân chia thành các lĩnh vực cơ bản hoặc các lĩnh vực ứng dụng. Mười lĩnh vực chủ yếu của tâm lý học hiện nay bao gồm: Tâm lý học phát triển; Tâm lý học xã hội; Tâm lý học giáo dục; Tâm lý học lâm sàng; Tâm lý học công nghiệp và tổ chức; Tâm lý học ứng dụng; Tâm lý học học đường; Tâm lý học thần kinh; Tâm lý học thể thao; Tâm lý học tội phạm. 

Ngoài ra, còn có các nhánh khác của Tâm lý học: Tâm lý học thực nghiệm; Tâm lý học pháp lý; Tâm lý học nhận thức; Tâm lý học ngôn ngữ; Tâm lý học hành vi;...

Tất cả đều cố gắng tìm hiểu về tâm trí và hành vi của con người trong các phương diện khác nhau để có thể giải thích và cải thiện cuộc sống của con người.

PV: Sau đại dịch COVID-19, có rất nhiều người gặp phải vấn đề về tâm lý như trầm cảm, ý định tự tử, stress… Vậy ngành Tâm lý học có vai trò như thế nào trong bối cảnh xã hội cụ thể như Việt Nam hiện nay, thưa cô? 

TS. Lê Thị Mai Liên: Trong bối cảnh đại dịch COVID-19, ngành tâm lý học có vai trò quan trọng hỗ trợ và chăm sóc tâm lý, giúp con người ứng phó với căng thẳng và khủng hoảng, cải thiện chất lượng cuộc sống của mỗi người, giảm thiểu ảnh hưởng của tình trạng sức khỏe tinh thần bất ổn đến sức khỏe thể lý và tăng cường khả năng phục hồi về mặt sức khỏe và tinh thần nhanh chóng.

Cụ thể ở Việt Nam, ngay từ khi đại dịch bùng phát, các chuyên gia tâm lý học và các trường đại học đào tạo ngành tâm lý học đã thực hiện nhiều hoạt động như: tư vấn tâm lý trực tuyến miễn phí, cung cấp kiến thức tâm lý và kỹ năng giải quyết vấn đề cho cộng đồng thông qua các bài viết, chia sẻ trên các trang mạng xã hội, tổ chức các khóa đào tạo và hội thảo trực tuyến để nâng cao kiến thức và kỹ năng chăm sóc tâm lý cho người khác. 

Ngoài ra, ngành tâm lý học cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu, đánh giá tác động của đại dịch đến tâm lý và sức khỏe tâm thần của người dân Việt Nam. Điều này giúp cải thiện chất lượng các chương trình hỗ trợ tâm lý cho người dân, tăng cường sự hiểu biết về tâm lý con người trong một tình huống khó khăn như đại dịch và có thể sử dụng những kiến thức nghiên cứu này để hỗ trợ tâm lý sau đại dịch hoặc trong các tình huống nghịch cảnh tương tự.

Ngành Tâm lý học có vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng đời sống người dân Việt Nam - Ảnh: CLB Sinh viên Tâm lý

PV: Theo cô, các lĩnh vực mà Tâm lý học có thế mạnh ứng dụng tại Việt Nam là gì và tương lai 10-15 năm nữa liệu xu hướng này có thay đổi không?

TS. Lê Thị Mai Liên: Theo tôi, các lĩnh vực mà Tâm lý học có thế mạnh ứng dụng tại Việt Nam bao gồm các lĩnh vực ứng dụng trong môi trường giáo dục, trường học như Tâm lý học giáo dục, Tâm lý học phát triển, Tâm lý học trường học, Tâm lý học hướng nghiệp/nghề nghiệp. 

Hoặc các ứng dụng trong môi trường bệnh viện hoặc các phòng khám, trung tâm tâm lý như Tâm lý học sức khỏe, Tâm lý học lâm sàng, Tâm lý trị liệu, Tâm lý học thần kinh nhận thức; Các ứng dụng trong môi trường công ty, doanh nghiệp, tuyển dụng, tổ chức nhân sự như: Tham vấn tâm lý, Tâm lý học công nghiệp và tổ chức hay Tâm lý học nhân sự.

Trong tương lai 10-15 năm nữa, với sự phát triển của công nghệ thông tin và chuyển đổi số, tâm lý học trực tuyến hay nhà tâm lý số và các ứng dụng tâm lý số có thể sẽ trở nên phổ biến để giúp các cá nhân và tổ chức tiếp cận dịch vụ tâm lý học một cách dễ dàng và thuận tiện. Ngoài ra, với sự phát triển của nền kinh tế, tâm lý học lao động và tổ chức cũng có thể sẽ trở nên quan trọng nhằm giúp các tổ chức nâng cao năng suất và hiệu quả làm việc.

Tuy nhiên, các lĩnh vực ứng dụng của tâm lý học vẫn sẽ cần thiết và không thể bị thay thế. Với sự phát triển của xã hội, các vấn đề tâm lý như trầm cảm, lo âu, stress, rối loạn ăn uống, rối loạn giấc ngủ,... sẽ tiếp tục gia tăng. Do đó, vai trò của tâm lý học trong giải quyết những vấn đề này vẫn được tăng cường trong tương lai. Ngoài ra, tâm lý học cũng có thể tiếp tục mở rộng và đa dạng hóa các lĩnh vực ứng dụng như công nghệ, thể thao, môi trường… 

Các lĩnh vực liên quan đến sức khỏe tinh thần cộng đồng hoặc các lĩnh vực có sự liên ngành giữa tâm lý học, công tác xã hội, giáo dục học, y tế công cộng cũng có thể phát triển. Một trong những nghề xuất hiện trong thời gian trong và sau thời gian đại dịch là huấn luận viên sức khỏe tâm thần đang có xu hướng gia tăng. Họ cung cấp các công cụ và sự hiểu biết cần thiết để thân chủ hoàn thành các mục tiêu cá nhân hoặc những mục tiêu do các chuyên gia khác như bác sĩ, nhà tâm lý học đặt ra để cải thiện cuộc sống hằng ngày. 

Theo tôi, các lĩnh vực tâm lý học chăm sóc cho người già, người cao tuổi, ứng phó với các vấn đề lão hóa, suy giảm nhận thức, bệnh Alzheimer cũng sẽ có khuynh hướng phát triển khi dân số đang có xu hướng già hóa.

GS.TS. Joern von Wietersheim (Ulm University Medical Center, Đức) chụp hình cùng sinh viên khoa Tâm lý học trong khóa học “Trị liệu Tâm động học” và hai chuyên đề “Rối loạn ăn uống”, “Phương pháp nghiên cứu trong Tâm lý học lâm sàng” - Ảnh: Fanpage Khoa Tâm lý học - USSH HCM

Nhiều dư địa việc làm cho sinh viên Tâm lý học

PV: Có một số định kiến cho rằng, ngành Tâm lý học ở Việt Nam hiện nay vẫn còn non trẻ so với mặt bằng chung ở môi trường quốc tế, cho nên cũng có rất ít “cơ hội nghề nghiệp cho sinh viên Tâm lý học. Cô đánh giá như thế nào về các ý kiến này?

TS. Lê Thị Mai Liên: Ở Việt Nam, mặc dù chức danh "nhà tâm lý học" (psychologist) mới được chính thức xuất hiện trong danh mục nghề nghiệp Việt Nam từ 3 năm nay theo quyết định số 34/2020/QĐ -TTg ngày 26/11/2020. Tuy nhiên, ngành Tâm lý học manh nha ở nước ta từ những năm 1951, đến nay đã có 50 năm hình thành, phát triển. Có thể nói rằng ngành Tâm lý học ở Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển, song không phải là non trẻ hoàn toàn. 

Trong những năm gần đây, tâm lý học đã trở thành một ngành học phổ biến tại các trường đại học, đã được đưa vào chương trình giảng dạy của nhiều trường học ở Việt Nam. Các chuyên ngành đào tạo hoặc định hướng đào tạo chính bao gồm: Tâm lý học giáo dục, Tâm lý học phát triển trẻ em và vị thành niên, Tâm lý học xã hội, Tâm lý học đường/Tham vấn học đường, Tham vấn tâm lý, Tâm lý học lâm sàng, Tâm lý học tổ chức nhân sự, Tâm lý học quản trị kinh doanh.

Tuy nhiên, vẫn còn những thách thức đối với ngành Tâm lý học ở Việt Nam. Một trong số đó là việc còn thiếu nhân lực chuyên môn và chương trình đào tạo chưa đáp ứng được hết nhu cầu thực tế, còn thiếu chuẩn hóa các hệ thống đạo đức hành nghề hay chứng chỉ hành nghề theo các quy chuẩn quốc tế. Ngoài ra, việc xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng, nghiên cứu khoa học, và đưa tâm lý học vào ứng dụng thực tế cũng cần được nâng cao.

Về cơ hội nghề nghiệp cho sinh viên Tâm lý học, hiện nay vẫn còn hạn chế ở một số lĩnh vực. Tuy nhiên, cũng có nhiều lĩnh vực mà sinh viên Tâm lý học có thể phát triển nghề nghiệp như: tham vấn tâm lý, giảng dạy tâm lý, giảng dạy kỹ năng sống, kỹ năng xã hội cảm xúc, tâm lý nhân sự, nghiên cứu khoa học, can thiệp và trị liệu tâm lý cho trẻ em, huấn luyện sức khỏe tinh thần, trị liệu tâm lý, tham vấn hướng nghiệp. Ngoài ra, với sự phát triển của các lĩnh vực ứng dụng của tâm lý học, có thể sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho sinh viên Tâm lý học trong tương lai.

Hiện nay, dư địa việc làm tại Việt Nam cho các nhà tâm lý giáo dục, nhà tâm lý học đường, nhà tâm lý lâm sàng, nhà tâm lý trẻ em và vị thành niên, nhà tư vấn hướng nghiệp là rất lớn. Một mặt, tỷ lệ các vấn đề khó khăn sức khỏe tinh thần gia tăng sau đại dịch. Mặt khác, người dân gia tăng nhận thức về vai trò của các hỗ trợ tâm lý và sức khỏe tinh thần và tìm đến các hỗ trợ này thông qua các nhà tâm lý lâm sàng, nhà tham vấn - trị liệu tâm lý trong các bệnh viện, trung tâm, dịch vụ hỗ trợ tâm lý và sức khỏe tinh thần. 

Về mảng doanh nghiệp, các nhà tâm lý nhân sự có thể ứng dụng kiến thức trong hỗ trợ tâm lý cho nhân viên, quản lý các vấn đề căng thẳng, xung đột trong công việc và mối quan hệ, xây dựng năng động nhóm, tuyển dụng và chiêu mộ nhân tài, đào tạo nhân sự, phát triển động lực làm việc và định hướng ngành nghề, kể cả nghiên cứu khảo sát về bầu khí làm việc và tư vấn cải thiện môi trường làm việc cho nhân viên.

Tóm lại, việc phát triển ngành Tâm lý học ở Việt Nam vẫn đang trong quá trình tiến bộ, và vẫn còn nhiều cơ hội và thách thức. Việc đầu tư vào đào tạo, nghiên cứu, và ứng dụng của ngành Tâm lý học sẽ giúp mở rộng cơ hội nghề nghiệp cho sinh viên và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam. 

Nhóm sinh viên Đinh Võ Phương Thanh, Đinh Thị Huệ Anh (Khoa Tâm lý học) đạt giải Khuyến khích tại Cuộc thi Người Nhân văn khởi nghiệp 2023 với “Mô hình không gian Trải nghiệm khám phá tâm lý” - Ảnh: Cuộc thi Người Nhân văn khởi nghiệp 2023

PV: Dựa trên kinh nghiệm học tập và trải nghiệm ở Pháp và nhiều quốc gia khác, cô đánh giá ngành Tâm lý học đang phát triển trên thế giới như thế nào? Sự phát triển ấy liệu có phải là xu hướng cho ngành Tâm lý học ở Việt Nam hay không?

TS. Lê Thị Mai Liên: Ngành Tâm lý học đang phát triển mạnh trên toàn thế giới, các lab nghiên cứu mũi nhọn hoặc dịch vụ tâm lý ứng dụng được định hướng phát triển trong các trường đại học, nhiều nghiên cứu mới được thực hiện giúp gia tăng hiểu biết về các quá trình tâm lý của con người và các thực hành tâm lý dựa trên bằng chứng (Evidence-Based Practice). Các ứng dụng của tâm lý học được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực khác nhau. Một số xu hướng phát triển đáng chú ý trong ngành Tâm lý học bao gồm:

1. Sự phát triển của tâm lý học tích cực: Tâm lý học tích cực tập trung vào những mặt tích cực của con người, nhằm tăng cường sức khỏe tinh thần và động lực cho các cá nhân. Các nghiên cứu trong lĩnh vực này đang được tiến hành để phát triển các phương pháp và kỹ năng giúp người ta cải thiện sự hạnh phúc và sức khỏe tinh thần.

2. Sự tăng cường ứng dụng công nghệ trong tâm lý học: Công nghệ đang được sử dụng trong nhiều phương pháp tâm lý học, từ phần mềm giả lập, thực tế ảo, trí tuệ nhân tạo tới các phương pháp thăm dò tâm lý qua mạng xã hội. Điều này tạo ra nhiều cơ hội để phát triển và sử dụng các phương pháp tâm lý học tiên tiến hơn.

3. Sự phát triển của tâm lý học ứng dụng: Tâm lý học đang được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, từ giáo dục, y tế đến doanh nghiệp. Tâm lý học ứng dụng là một lĩnh vực đầy tiềm năng và đang được nghiên cứu và phát triển mạnh mẽ.

Các xu hướng này đang cập nhật và phát triển tại Việt Nam nhờ sự phát triển của công nghệ và sự trao đổi quốc tế trong đào tạo tâm lý học. Chẳng hạn, trong khoảng 2 năm lại đây, các nghiên cứu và thực hành tâm lý dựa trên tâm lý học tích cực tại Việt Nam cũng được gia tăng, quan tâm đến các khía cạnh về hạnh phúc (happiness), sự chú tâm/chánh niệm (mindfulness), khả năng phục hồi/sức bật tinh thần (resilience), lòng biết ơn (gratitude) và lòng trắc ẩn (compassion), các liệu pháp hỗ trợ tâm lý dựa trên chánh niệm (Mindfulness-based psychotherapy), tất cả cho phép các cá nhân phát triển đồng thời đóng góp vào sức khỏe và hạnh phúc của gia đình, xã hội, cộng đồng và doanh nghiệp. 

Các trường đại học cũng triển khai nhiều dự án nghiên cứu và phát triển các nhóm nghiên cứu mạnh, trung tâm nghiên cứu nhằm phát triển các tri thức về tâm lý học phục vụ cho đào tạo và thực hành. 

Tại Trường ĐH KHXH&NV- ĐHQG-HCM, chúng tôi cũng đang đón đầu xu hướng này. Khoa Tâm lý học đã xây dựng Nhóm nghiên cứu Tâm lý ứng dụng, thực hiện chương trình Thúc đẩy các nghiên cứu tâm lý ứng dụng tại trung tâm Nghiên cứu khoa học hành vi, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM. Trung tâm được đầu tư cơ sở gồm 14 phòng chức năng, chia thành 3 lab nghiên cứu bao gồm: Lab nghiên cứu ứng dụng tâm lý trị liệu; Lab nghiên cứu ứng dụng Tâm lý trẻ em; Lab nghiên cứu Tâm lý học thực nghiệm.

PV: Hiện nay, trí tuệ nhân tạo (AI), như ChatGPT đang là xu hướng và có một số dự đoán cho rằng, trong tương lai không xa AI sẽ thay thế một số ngành nghề hiện nay. Theo cô, ngành Tâm lý học sẽ chịu tác động hai mặt như thế nào?

TS. Lê Thị Mai Liên: Sự phát triển của trí tuệ nhân tạo có thể tác động đến ngành Tâm lý học nhưng chúng ta cần nhìn nhận từ hai mặt để tận dụng những cơ hội và đối phó với những thách thức mà nó mang lại.

Xét mặt tích cực, AI có thể giúp tăng cường khả năng phân tích và đánh giá dữ liệu, hỗ trợ các chuyên gia tâm lý đưa ra các kết luận và đề xuất giải pháp chính xác hơn. Hiện nay, nhiều trung tâm cũng ứng dụng AI trong đánh giá một số rối loạn phát triển như tự kỷ hay trầm cảm. AI cũng có thể tham gia làm “trợ lý nghiên cứu” hỗ trợ tìm các nguồn tài liệu, tổng hợp tài liệu, phân tích dữ liệu, viết báo cáo, vẽ biểu đồ... AI như ChatGPT cũng có thể giải đáp các băn khoăn, thắc mắc của con người về các hiện tượng tâm lý và đưa ra một số khuyến nghị hoặc nguồn thông tin tham chiếu nhanh chóng, tối ưu mà không cần mất quá nhiều thời gian để tìm trên các trang tìm kiếm như Google. 

Tuy nhiên, mặt tiêu cực của sự phát triển của AI là nó có thể thay thế một số công việc mà trước đây do con người thực hiện, bao gồm cả những công việc trong ngành tâm lý học. Ví dụ, AI có thể được sử dụng để thực hiện các đánh giá tâm lý hoặc nhà tâm lý số, nhà tâm lý nhân tạo (digital psychologist, AI psychologist) thực hiện các phiên tham vấn tâm lý trực tuyến thay vì các chuyên gia tâm lý. Điều này có thể dẫn đến giảm số lượng việc làm cho các chuyên gia tâm lý hoặc các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực này. 

Hiểu mình, hiểu nghề trước khi hiểu người

PV: Như vậy, để không bị thay thế bởi chính thị trường lao động con người lẫn sự vươn lên của trí tuệ nhân tạo, sinh viên Tâm lý học cần trang bị những kiến thức, kỹ năng gì, thưa cô? 

TS. Lê Thị Mai Liên: Theo tôi, sinh viên Tâm lý học cần trang bị các kiến thức và kỹ năng sau đây:

  1. Kiến thức căn bản và chuyên sâu về tâm lý con người 
  2. Các lý thuyết và kỹ năng tham vấn tâm lý 
  3. Kỹ năng giải quyết vấn đề
  4. Kỹ năng liên ngành (khoa học máy tính, thống kê, trí tuệ nhân tạo và khoa học dữ liệu,…)
  5. Kỹ năng giao tiếp và tương tác liên cá nhân
  6. Kỹ năng học tập suốt đời. 

Sinh viên Tâm lý học phải trau dồi nhiều kỹ năng thực tiễn để nâng cao cơ hội nghề nghiệp của mình - Ảnh: Đoàn - Hội Tâm lý học

Trong một số nghề mang tính chăm sóc, chữa lành như tham vấn và trị liệu tâm lý, đạo đức con người được coi là yếu tố nền tảng, khả năng xây dựng mối quan hệ an toàn, tin cậy, bảo mật đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành liên minh trị liệu, đóng góp đáng kể trong thành công của hỗ trợ tâm lý chứ không chỉ đơn thuần dựa vào sử dụng kỹ thuật trị liệu. Vì vậy sinh viên cần chú ý đạo đức hành nghề trong học tập, nghiên cứu và thực hành tâm lý. 

Mặt khác “máy móc” có thể làm việc không biết mệt và kiệt sức, nhưng nhà tâm lý là con người có thể gặp các nguy cơ kiệt sức nghề chăm sóc. Vì vậy, sinh viên cũng cần học tập và thực hành kỹ năng tự chăm sóc (self-care) để duy trì tình trạng tâm lý lành mạnh, hiện diện được với khách hàng và phòng ngừa các vấn đề kiệt sức nghề nghiệp (burnout).

PV: Tâm lý học đang là một ngành khá phát triển trên thế giới. Vậy khi học tập tại Trường ĐH KHXH&NV, liệu sinh viên có những cơ hội quốc tế nào không, thưa cô? 

TS. Lê Thị Mai Liên: Tại Trường ĐH KHXH&NV, sinh viên Tâm lý học có nhiều cơ hội để tham gia vào các hoạt động quốc tế. Về học bổng, nhiều sinh viên tâm lý tốt nghiệp có thành tích cao đã xin được học bổng và du học tại nhiều quốc gia trên thế giới.

Về các chương trình trao đổi sinh viên, hiện nay Nhà trường đang phối hợp chương trình Trao đổi sinh viên Eramus+ với Liên minh Châu Âu. Khoa Tâm lý học cũng đã xây dựng thành công Trao đổi Eramus+ trong ba năm (2022 - 2025) tạo điều kiện trao đổi 8 học viên, nghiên cứu sinh và giảng viên.

Ngoài ra, nhiều giảng viên quốc tế tham gia vào các chương trình Fullbright hoặc chương trình trao đổi Eramus dành cho giảng viên cũng đến trực tiếp giảng dạy tại Khoa Tâm lý học, giúp sinh viên được cập nhật kiến thức với chuyên gia quốc tế ngay tại Việt Nam.

PV: Còn ý kiến khác cho rằng học Tâm lý học khá khô khan, huyền bí, phải đọc nhiều…, từ kinh nghiệm của bản thân, xin cô cho ý kiến về đánh giá này. Liệu học Tâm lý học chỉ bằng sở thích thì có là điều kiện đủ, hay còn những tố chất nào khác nữa ở sinh viên ngành này?

TS. Lê Thị Mai Liên: Ý kiến học Tâm lý học khá khô khan, huyền bí và phải đọc nhiều có thể là do người đánh giá chưa hiểu rõ về ngành Tâm lý học. Thực tế, tâm lý học là một ngành học rất phong phú và đa dạng, bao gồm nhiều lĩnh vực và phương pháp nghiên cứu khác nhau. Học Tâm lý học đòi hỏi sự tập trung và nỗ lực trong việc đọc và tìm hiểu các kiến thức chuyên môn.

Tuy nhiên, nếu sinh viên có niềm đam mê với ngành này, việc học sẽ trở nên thú vị và bổ ích. Ngoài sự đam mê, để trở thành một chuyên gia Tâm lý học, sinh viên cần có những tố chất như kỹ năng giao tiếp, tương tác liên cá nhân, tư duy logic, khả năng phân tích, tổng hợp và suy luận, tinh thần trách nhiệm, sự tôn trọng và nhạy cảm với tâm lý con người. Điều này giúp sinh viên Tâm lý học có khả năng ứng dụng kiến thức vào thực tế và giải quyết các vấn đề tâm lý phức tạp của con người.

Về điều kiện để học Tâm lý học, sở thích không phải là điều kiện đủ. Sinh viên cần đáp ứng các yêu cầu của trường đại học và chương trình đào tạo, đồng thời phải có khả năng đọc và hiểu tiếng Anh, vì nhiều tài liệu chuyên môn trong ngành Tâm lý học được viết bằng tiếng Anh. Sinh viên cũng cần chú ý đến cả đạo đức hành nghề trong nghiên cứu và thực hành tâm lý.

PV: Một vài điều cô muốn gửi gắm tới các bạn học sinh đang có ý định chọn ngành Tâm lý học?

TS. Lê Thị Mai Liên: Để các bạn học sinh có cái nhìn rõ ràng hơn về ngành Tâm lý học trước khi quyết định chọn ngành, tôi muốn gửi gắm vài điều sau đây.

Thứ nhất, hiểu mình rất quan trọng trong việc lựa chọn bất cứ ngành nào. Các bạn có ý định chọn ngành tâm lý học hãy khám phá bản thân mình, những đặc điểm tính cách, động lực, tố chất hoặc giá trị mà bạn hướng đến bằng việc trả lời một số câu hỏi như: 

1. Tại sao tôi muốn học tâm lý học?

2. Tôi hiểu rõ về những gì tâm lý học có thể cung cấp cho tôi?

3. Tôi có kỹ năng và tính cách phù hợp với ngành tâm lý học như thế nào?

4. Tôi có đam mê và năng lực như thế nào để phát triển sự nghiệp trong ngành tâm lý học?

5. Tôi có kế hoạch học tập và sử dụng bằng cấp tâm lý học của mình như thế nào?

6. Tôi có thể học tập và phát triển kỹ năng của mình ở đâu và thông qua những phương pháp nào?

7. Tôi có khả năng tìm kiếm việc làm nào trong lĩnh vực tâm lý học?

8. Tôi có kế hoạch thực hiện những gì để phát triển sự nghiệp của mình trong ngành tâm lý học?

9. Tôi đã tìm hiểu và hiểu rõ về những yêu cầu và quy định để trở thành một chuyên gia tâm lý học không?

10. Tôi có thể tìm những người cố vấn, hướng dẫn hoặc giám sát trong nghiên cứu và thực hành tâm lý trong tương lai như thế nào?

Tôi quan niệm rằng việc chọn đúng nghề rất cần sự dấn thân, tìm hiểu, sự phù hợp với đặc điểm bản thân, định hướng giá trị và sự cam kết với sự lựa chọn đó. Các bạn hãy định hướng nghề nghiệp bằng việc tìm hiểu về ngành tâm lý học thông qua các chương trình đào tạo, trao đổi với các anh chị đang công tác trong ngành tâm lý học để hiểu rõ hơn về ngành nghề. Những câu hỏi trên và nhiều câu hỏi khác nữa trong quá trình dấn thân vào học tập ngành tâm lý học này, theo tôi, không chỉ trả lời một lần mà cần xem lại để điều chỉnh bản thân và điều chỉnh việc học tập theo đuổi nghề nghiệp đó.

Học sinh nên có sự nghiên cứu kỹ ngành học trước khi đặt nguyện vọng xét tuyển - Ảnh: Khánh Linh

Thứ hai, ngành Tâm lý học đòi hỏi sự kiên trì và nghiêm túc trong học tập. Các bạn cần phải học tập, đọc nhiều, thực hành nhiều và rèn luyện kỹ năng suốt cả quá trình học tập và sau này trong sự nghiệp.

Thứ ba, Tâm lý học là một ngành đa dạng, có nhiều lĩnh vực ứng dụng khác nhau. Các bạn cần tìm hiểu và lựa chọn lĩnh vực phù hợp với sở thích và năng lực của mình. Tham gia vào các hoạt động câu lạc bộ như nghiên cứu, thực hành, các hoạt động thiện nguyện, dự án tâm lý sẽ gia tăng tính ứng dụng lý thuyết tâm lý vào thực tế. 

Cuối cùng, để trở thành một nhà tâm lý lành nghề, ngoài việc học tập chuyên môn, các bạn cần có tình yêu và sự đam mê đối với ngành này. Chỉ khi có đam mê, bạn mới có lửa để ra sức học tập, bồi dưỡng chuyên môn, phát triển nghề nghiệp và có năng lượng để phục vụ con người. Sự tham gia vào các hội nghề, nhóm/mạng lưới chuyên môn, được giám sát cũng là những hoạt động cần thiết để bạn thực hành hiệu quả trong nghề nghiệp.

PV: Xin cảm ơn cô về buổi phỏng vấn! 

KHÁNH LINH

 

CHIA SẺ:
Ngày cập nhật: 27/03/2023

Bài viết liên quan